Category Archives: Đất nước và con người

  • 0

TẠI SAO NÊN CHỌN HỌC TIẾNG HÀN TẠI XỨ SỞ KIM CHI

south-korea-travel

Hàn Quốc là một đất nước có nền kinh tế phát triển và văn hóa đa dạng. Đây là điểm đến lý tưởng cho những bạn có ý định đi du học hoặc tìm kiếm cho mình một công việc với mức lương cao. Ngày nay, làn sóng văn hóa Hàn Quốc thông qua K-pop và phim truyền hình đang có sức lan tỏa mạnh mẽ khắp thế giới và Việt Nam cũng nằm trong số đó.
Do đó việc học tiếng Hàn Quốc hiện nay đang được nhiều bạn trẻ quan tâm. Rất nhiều học sinh Việt Nam sang học chương trình tiếng Hàn tại Hàn Quốc. Đối với chương trình này, bạn có thể đăng ký một năm học tiếng sau đó xin chuyển tiếp lên các chương trình nghề, cao đẳng, đại học hoặc thạc sĩ tùy theo trình độ và mong muốn của bạn. Với kết quả học tiếng Hàn tốt bạn sẽ dễ dàng kiếm được học bổng hấp dẫn từ các trường Đại học để thực hiện giấc mơ du học Hàn Quốc.

Hầu hết các trường đại học Hàn Quốc đều có chương trình học tiếng Hàn Quốc dành cho các sinh viên quốc tế biết ít hoặc chưa biết về tiếng Hàn. Tại đây ngoài việc học 4 giờ/ngày và 5 ngày/tuần, bạn còn có thể tham gia các hoạt động, lễ hội do nhà trường tổ chức nhằm mục đích giao lưu văn hóa và khiến cho các du học sinh quốc tế tìm hiểu thêm về đất nước cũng như con người xứ sở Kim Chi này. Đáng kể đến như ngày Quốc tế (dành cho các sinh viên quốc tế), ngày thể thao và ngày tìm hiểu văn hóa.

student

Học phí ở các trường Hàn Quốc tương đối hợp lý đối với mỗi du học sinh. Ngoài tiền học phí và các khoản tiền phải đóng theo quy định của giáo dục Hàn Quốc thì học sinh không phải đóng thêm bất kỳ khoản nào khác nữa, chưa tính đến các trường Hàn Quốc luôn đưa ra các chương trình học bổng hấp dẫn khuyễn khích du học sinh quốc tế. Đa số các trường đại học hỗ trợ 30% đến 100% học phí cho các du học sinh nước ngoài dựa vào kết quả học tập.

Là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất châu Á với nhiều doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia lớn tạo ra nhiều cơ hội việc làm với mức lương cao, do vậy khi ra trường bạn có thể kiếm được một công việc ưng ý tại Hàn Quốc hoặc quay về Việt Nam làm việc cho các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam như SAMSUNG, LG, HUYNDAI…

Quyết định lựa chọn việc học chương trình tiếng Hàn ở trường đại học nào nằm ở điều kiện và khả năng của bạn. Nếu có thắc mắc hay muốn tìm hiểu thông tin thêm về du học Hàn Quốc, bạn hãy liên hệ với :

Trung Tâm Tư Vấn Giáo Dục & Đào Tạo Quốc Tế Minh Hoàng An:
Văn phòng tại Tp. HCM: 500 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11

Văn phòng tại Hải Dương: 223 Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu Đông Nam Cường

Điện thoại: (08) 3975 6200 | 39756201 | 39756203 | 0905 605 601

Email: duhoc@minhhoangan.edu.vn – Website: www.minhhoangan.edu.vn


  • 0

Từ vựng tiếng Hàn khi thuyết trình & phỏng vấn

Một số từ vựng tiếng Hàn về các biểu hiện khi phát biểu, thuyết trình:

  1. 화제 제시하기 (Khi giới thiệu đề tài muốn nói)

저는 ~에 대해 말씀 드리고자 합니다. (Tôi xin trình bày về~)
제가 말씀 드리려는 것은 ~입니다. (Đề tài tôi muốn trình bày là~)

  1. 문제 제기하기 (Khi đặt vấn đề)

과연 ~(으)ㄹ까요? 저는 이 점에 관해 이야기하고자 합니다. (Có thật là… vậy không? Tôi muốn nói về điểm này)

  1. 인용하기(Khi trích dẫn)

~에 ‘……'(이)라는 말이 있습니다. (Trong ~ có nói rằng “……”)

  1. 유형 나누기 (Khi trình bày chi tiết / Giải thích bảng biểu)

~에는 ~가지 요소가 있다. ~, ~, ~이/가 바로 그것입니다. (Có ~ loại/cái/thứ trong~. Đó chính là ~, ~, ~…)
~에는 두 가지 종류가 있는데, 하나는 ~이고, 다른 하나는 ~입니다. (Trong ~ có 2 loại, một loại là~, một loại khác là ~)

  1. 순서에 따라 설명하기(Khi trình bày nội dung theo thứ tự)

먼저, ——. 다음으로, ——. 마지막으로 / 끝으로 ——. (Đầu tiên, ——. Tiếp theo là ——. Và cuối cùng là ——-.)
첫째, ——-. 둘째, ——–. 셋째, ——. (Thứ nhất, ——-. Thứ hai, ——. Thứ ba, ——-.)

  1. 비유하기 (Khi so sánh)

(A)~은/는 (B)~에 비유할 수 있습니다. (A có thể so với B)
(A)~은/는 (B)나/이나 마찬가지입나다. (A thì giống với B)

  1. 예시하기 (Khi cho ví dụ chứng minh)

예를 들어 ~ (Ví dụ như ~)
예를 들면 ~ (Có thể cho ví dụ là ~)

  1. 요약하기 (Khi tóm tắt ý)

지금까지 말씀 드린 내용을 간단히 요약하면 ~ (Đến đây tôi xin tóm tắt nội dung đã nói như sau ~)
요컨대, ~ (Nói tóm lại ~)

  1. 자기 생각 말하기 (Khi trình bày ý kiến cá nhân)

제 생각으로는 ~ (Theo suy nghĩ của tôi thì ~)
제가 생각하기에는 ~ (Tôi nghĩ là ~)
제 짧은 소견으로는 ~ (Theo thiển ý của tôi thì ~)

  1. 강조하기 (Khi muốn nhấn mạnh ý)

다시 한번 여러분에게 강조하고 싶은 것은 ~. (Điều tôi muốn nhấn mạnh với quý vị một lần nữa là ~)
저는 이 점을 강조하고 싶습니다. (Tôi muốn nhấn mạnh điểm này)
A~은/는 B~(이)라고 해도 과언이 아닙니다. (Có thể nói A là B cũng không quá lời)

  1. 당부하기 (Khi yêu cầu/mong muốn)

~기를 바랍니다. (Mong rằng ~ / Hy vọng rằng ~)
~도록 당부하는 바입니다. (Yêu cầu/ Mong muốn của tôi là ~)

  1. 전망하기 (Khi đưa ra viễn cảnh tương lai / triển vọng)

앞으로 ~(으)로 것으로 전망됩니다. (Triển vọng tương lai sẽ thành / sẽ là…)
저는 ~(으)로 것이라고 생각합니다. (Tôi nghĩ rẳng đây sẽ là ~)

  1. 끝맺기 (Khi kết thúc)
    지금까지 제 발표를 경청해 주셔서 감사합니다. (Xin cám ơn vì đã lắng nghe bài phát biểu của tôi đến lúc này)

 

 Một số từ vựng tiếng Hàn dùng trong phỏng vấn:

 

STT Tiếng Hàn Tiếng Việt
1 직장 nơi làm việc
2 직장을 구하다/일자리 찾다/ 취직하다 tìm việc
3 영업사원 nhân viên kinh doanh
4 비서 thư ký
5 면접 phỏng vấn
6 신체 검사 kiểm tra sức khỏe
7 이력서 sơ yếu lý lịch
8 공무원 công nhân viên chức
9 서류 hồ sơ
10 자기 소개 tự giới thiệu bản thân
11 전공 chuyên ngành
12 학교 성적 thành tích học tập
13 학점 평군 điểm bình quân
14 퇴직하다/ 일 그만두다 nghỉ việc
15 아르바이트 làm thêm
16 직업 nghề nghiệp
17 한국어 능력 năng lực tiếng Hàn
18 직장 경험 kinh nghiệm làm việc
19 판매 경험 kinh nghiệm bán hàng
20 장단 점 điểm mạnh và điểm yếu
21 최종 결과 kết quả cuối cùng
22 최종 결정 quyết định cuối cùng
23 특별한 기술 kỹ thuật đặc biệt
24 근무시간 thời gian làm việc
25 통보하다 thông báo
26 합격이 되다 trúng tuyển
27 입사하다 vào công ty
28 공문 công văn
29 노동계약 hợp đồng lao động
30 보건보험 bảo hiểm y tế
31 사회보험 bảo hiểm xã hội
32 월급 lương tháng
33 봉급 lương
34 보수 tiền công
35 상금 khen thưởng
36 기율 kỷ luật
37 규칙 quy tắc
38 면직하다 bãi nhiệm chức vụ
39 연차휴가 nghỉ phép
40 휴일 ngày nghỉ
41 출장가다 đi công tác
42 야근 làm đêm
43 잔업 làm thêm
44 조퇴하다 về sớm
45 근무일 ngày làm việc
46 지각하다 đi trễ
47 보너스 tiền thưởng
48 초과근무 수당 lương làm thêm ngoài giờ
49 해고 sa thải
50 해고를 당하다 bị sa thải
51 기본급여 lương căn bản
52 건강진단 khám sức khoẻ
53 출퇴근 버스 xe đưa rước
54 최저 봉급 lương tối thiểu

[Nguồn: hanquochoc.edu.vn]


  • 0
Lễ Chuseock

Lễ hội ở Hàn Quốc

Cùng du học Hàn Quốc khám phá các lễ hội ở Hàn Quốc nổi bật. Thời xưa, các lễ hội thường là những lễ kỷ niệm tôn giáo hoành tráng. Ngay từ trước thời Tam Quốc, các lễ hội tạ ơn mùa gặt đã bắt đầu xuất hiện chính thức ở một vài liên minh vương quốc nhỏ. Các lễ hội này bao gồm lễ yeonggo (đánh trống gọi hồn) ở Vương quốc Buyeo, lễ dongmaeng (nghi lễ thờ cúng tổ tiên) ở Vương quốc Goguryeo, và lễ mucheon (Thiên vũ) ở Vương quốc Dongye. Thông thường, các lễ hội này được tổ chức vào tháng 10 âm lịch, sau khi đã xong các vụ gặt.

Chúc mừng năm mới Sebae

Sebae là phong tục người trẻ tuổi hơn cúi lạy các bậc cao niên đáng kính để chúc mừng năm mới

Truyền thống vui chơi sau vụ gặt mùa thu và đón chào năm mới trong không khí vui vẻ vẫn được duy trì qua các triều đại sau này, mỗi nơi mỗi thời lại có một số thay đổi nho nhỏ.

Do nhịp sống bận rộn ngày nay, Hàn Quốc hiện đại đã mất đi nhiều ngày lễ truyền thống. Tuy nhiên, một số lễ hội vẫn được tổ chức sôi nổi. Một dịp như vậy là Seollal, ngày đầu tiên của năm âm lịch mới, thường rơi vào tầm cuối tháng Một tới cuối tháng Hai dương lịch. Vào ngày hôm đó, toàn bộ gia đình sẽ sum họp. Họ mặc bộ Hanbok hoặc những quần áo đẹp nhất, cùng tiến hành những nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Sau các nghi lễ đó, những thành viên trẻ trong gia đình sẽ cúi chào các bậc cao niên theo truyền thống.

Nghi thức trà đạo

Trà đạoYếu tố chính trong nghi thức trà đạo Hàn Quốc là giản dị và tự nhiên khi thưởng thức trà trong một bối cảnh trang trọng nhẹ nhàng.

Hiện nay những nghi thức trà đạo đang được phục hồi như một cách để thư giãn và tìm kiếm sự hòa hợp trong nền văn hóa đang phát triển nhanh chóng, và cũng là để giữ gìn truyền thống nghệ thuật phi vật thể lâu đời này của Hàn Quốc.

Một ngày lễ lớn khác là Daeboreum, ngày rằm tháng giêng âm lịch, sau lễ Seollal. Trong ngày hôm đó, các nông dân và ngư dân đều cầu xin một vụ mùa bội thu, và những gia đình khac thể hiện ước mong một năm mới nhiều may mắn và tránh được điều xúi quẩy, bằng cách chuẩn bị các món rau quả đặc biệt của mùa đó.
Vào ngày lễ Dano (Đoan Ngọ), ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, nông dân thường nghỉ làm đồng một ngày để tham gia lễ hội đánh dấu hoàn tất việc gieo mạ, còn phụ nữ thì gội đầu bằng một thứ nước đặc biệt, là nước đun hoa diên vĩ (iris flowers) với hi vọng tránh được những điều không may. Dano là một lễ hội lớn thời xưa, nhưng hiện nay mọi người không còn hứng thú lắm, ngoại trừ ở một vài tỉnh thành.

Lễ Chuseock

Để đón lễ Chuseok, các gia đình thường làm món songpyeon, một loại bánh gạo hình bán nguyệt.

Lễ Chuseok, vào ngày 15 tháng 8 âm lịch, có lẽ là một trong những ngày lễ được người Hàn Quốc hiện đại mong đợi nhiều nhất.

Những hàng ô tô dài dằng dặc ken đặc trên khắp các ngả đường cao tốc, và rất nhiều cơ quan, cửa hàng đóng cửa trong vòng ba ngày. Các thành viên gia đình tụ họp lại, cúng bái tổ tiên, và đi thăm những ngôi mộ của dòng họ. Cư dân thành phố trở về quê quán để tham  gia ngày lễ Chuseok. Vé tàu và vé máy bay cho những người về quê như vậy thường được đặt trước tới vài tháng.

Trong số các ngày lễ hội khác có ngày Phật Đản, thường là vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, và ngày Giáng Sinh, ngày mà không chỉ riêng người theo đạo Thiên Chúa mà cả nhiều bạn trẻ hiện nay rất ưa thích.

Vào ngày Phật Đản, một số lượng lớn những người theo đạo Phật sẽ tham gia một đoàn diễu hành rước đèn lồng ở trung tâm Seoul, và các đèn lồng theo phong cách đạo Phật cũng sẽ được treo dọc những con phố chính.

Cũng có một vài ngày lễ gia đình được coi là quan trọng đối với người Hàn Quốc và được kỷ niệm bằng cách tổ chức ăn uống vui vẻ. Trong số này có ngày Baegil, là ngày thứ 100 sau khi sinh của một đứa trẻ; ngày Dol, là sinh nhật đầu tiên của đứa trẻ; và ngày Hoegap hay Hwan-gap, là ngày sinh nhật thứ 60 của một người, được coi là ngày kết thúc chu kỳ 60 năm Lục thập hoa giáp phương Đông. Những ngày đặc biệt như vậy được tổ chức rất nồng hậu, đặc biệt là vào thời tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh còn cao và tuổi thọ trung bình còn thấp.

Những dịp như vậy từng được coi là những lễ hội mà ngay cả họ hàng xa cũng tới tham dự, nhưng ngày nay, chúng thường chỉ được tổ chức trong gia đình thân gần nhau. Riêng với lễ Hoegap, ngày càng nhiều người lớn tuổi đang chuyển sang các hình thức kỷ niệm khác như đi du lịch ra nước ngoài thay vì tổ chức ở nhà.

Lễ Dol

Dol, lễ mừng ngày sinh nhật đầu tiên


  • 0
Lễ rước đèn hoa sen

Tôn giáo ở Hàn Quốc

Không giống một số nền văn hóa khác có một tôn giáo chính, văn hóa Hàn Quốc bao gồm nhiều yếu tố tôn giáo phong phú, góp phần định hình cách suy nghĩ và hành xừ của dân tộc. Vào những giai đoạn đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc, chức năng tôn giáo và chức năng chính trị thường kết hợp với nhau nhưng sau này chúng trở nên tách biệt rõ ràng.

Xuyên suốt lịch sử, người Hàn Quốc sống dưới ảnh hưởng của tín ngưỡng Shaman, đạo Phật, đạo Lão, Nho giáo, và thời nay, lòng tin ở đạo Thiên Chúa cũng đã bắt đầu ăn sâu trong đất nước, mang đến một yếu tố khác cũng rất quan trọng có thể làm thay đổi đời sống tâm linh của người dân. Tốc độ công nghiệp hóa nhanh chóng, nhưng mới chỉ diễn ra trong vòng vài thập niên so với vài thế kỷ ở phương Tây, dẫn đến nhiều băn khoăn và cảm giác xa lạ, phá vỡ sự thanh thản trong tâm hồn người Hàn Quốc, khuyến khích họ đi tìm sự an ủi trong các hoạt động tôn giáo. Kết quả là số lượng người theo tôn giáo gia tăng đáng kể cùng với nhiều cơ sở tôn giáo nổi lên, trở thành các tổ chức xã hội có tầm ảnh hưởng lớn.

Theo Hiến pháp Hàn Quốc, người dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Theo một điều tra thống kê xã hội năm 2005, 53,1% người Hàn Quốc có một tín ngưỡng tôn giáo cụ thể nào đó. Số người theo Phật giáo chiếm khoảng 43% trong số này, theo sau là những người theo Đạo Tin Lành, 34,5% và người theo Công giáo chiếm 20,6%.

Tôn giáo ở Hàn Quốc

Đạo Phật

Đạo Phật là một tôn giáo giàu triết lý và kỷ luật tu tập, chú trọng tới sự giải thoát bản thân qua mỗi lần tái sinh trong vòng luân hồi bất tận.

Nhà sư Sundo, tới từ thời Tiên Tần ở Trung Quốc, truyền bá Đạo Phật vào Hàn Quốc từ năm 372 SCN dưới triều đại Goguryeo. Vào năm 384, nhà sư Malananda mang đạo Phật tới Vương quốc Baekje từ Nhà Đông Tấn ở Trung Quốc. Ở Vương quốc Silla, đạo Phật được nhà sư Ado từ Vương quốc Goguryeo truyền bá vào giữa thế kỷ 15. Đạo Phật dường như được giai cấp thống trị ở cả ba vương quốc ủng hộ vì là một chỗ dựa tinh thần phù hợp với cơ cấu thống trị thời bấy giờ, vì Đức Phật, cũng giống như Nhà vua, là biểu tượng quyền lực được tôn thờ duy nhất.

Dưới sự bảo hộ của triều đình, nhiều chùa chiền và tu viện được xây dựng và số người theo đạo Phật ngày càng gia tăng đáng kể. Tới thế kỷ thứ 6, các nhà sư và nghệ nhân bắt đầu di cư sang Nhật Bản, mang theo kinh sách Phật giáo và vật phẩm chế tác của mình, hình thành cơ sở cho văn hóa đạo Phật ban đầu ở Nhật Bản.

Tới khi Vương triều Silla thống nhất được toàn bán đảo vào năm 668, đạo Phật đã được coi là quốc giáo, mặc dù các hệ thống cai trị hầu hết theo đạo Khổng. Sự ưa thích đạo Phật của triều đình trong thời kỳ này dẫn đến sự nở rộ đáng kinh ngạc của nghệ thuật Phật Giáo và các kiến trúc chùa chiền, trong đó có Phật Quốc Tự và nhiều di tích khác ở Gyeongju, thủ đô của Silla. Vị trí tôn kính trên toàn quốc dành cho đạo Phật bắt đầu suy giảm khi giới quý tộc chìm đắm vào lối sống xa hoa. Khi đó, đạo Phật bắt đầu phát triển phái Seon (Thiền) tập trung đi tìm chân lý phổ quát thông qua tu tập khổ hạnh.

Lễ rước đèn hoa sen

Lễ Rước đèn Hoa sen (Lễ hội đèn lồng được tổ chức để kỷ niệm lễ Phật Đản vào ngày cuối tuần liền trước ngày đó, ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch)

Những người kế vị triều đại Goryeo ủng hộ đạo Phật tích cực hơn. Trong suốt Triều đại Goryeo, nghệ thuật và kiến trúc Phật giáo tiếp tục nở rộ nhờ sự sẵn sàng hỗ trợ của giới quý tộc. Bộ Đại tạng kinh Hàn Quốc ra đời trong chính thời gian này. Khi Yi Seong-gye, người sáng lập ra Triều đại Joseon, lãnh đạo khởi nghĩa và tự xưng vương năm 1392, ông cố gắng loại bỏ tất cả ảnh hưởng của đạo Phật đối với hệ thống cai trị và lấy đạo Khổng làm nguyên tắc chỉ đạo cai trị đất nước và nền tảng đạo đức. Trong suốt năm thế kỷ dưới Triều Joseon, bất cứ nỗ lực nào nhằm hoằng dương Phật pháp đều bị các nhà nho và giới quan lại theo đạo Khổng phản đối mạnh mẽ.

Khi Nhật Bản dùng vũ lực lật đổ Triều đại Joseon và thiết lập chế độ cai trị thuộc địa năm 1910, họ đã cố gắng đồng hóa những nhánh Phật giáo của Hàn Quốc vào những nhánh ở Nhật Bản. Tuy nhiên, những nỗ lực này đều thất bại, thậm chí còn khơi dậy mối quan tâm của người Hàn Quốc đối với đạo Phật. Những thập niên sau đó, đạo Phật trải qua một thời kỳ hưng thịnh trở lại, với nhiều nỗ lực để điều chỉnh cho phù hợp với thay đổi của xã hội mới. Mặc dù phần lớn các nhà sư vẫn ở lại vùng núi, tự giác tuân thủ giới luật và thiền định, nhưng một số khác bắt đầu xuống các thành phố để truyền bá đạo Phật. Có một số lượng lớn các nhà sư thực hiện nghiên cứu về tôn giáo ở các trường đại học trong và ngoài nước. Phái Seon (Phật giáo hướng về Thiền định của Hàn Quốc) phát triển mạnh mẽ, nhiều người nước ngoài theo bước các nhà sư đáng kính người Hàn Quốc qua những buổi giảng đạo, tu luyện trong Chùa Songgwangsa ở tỉnh Jeollanam-do và các trung tâm của phái Seon ở Seoul và nhiều tỉnh thành khác.

Nho giáo

Do Khổng Tử sáng lập vào thế kỷ thứ 6 TCN, Nho giáo giống một hệ thống nguyên tắc hành xử đạo đức hơn là một tín ngưỡng tôn giáo. Đó là một hệ thống các phạm trù đạo đức – lòng nhân ái, đức quân tử, nghi lễ đúng mực và sự cai trị sáng suốt – được đặt ra để truyền dạy cách tề gia trị quốc. Tuy vậy, Nho giáo có thể được coi là một tôn giáo vô thần vì sau một thời gian dài, các tín đồ đã tôn Khổng Tử lên làm thánh và một mực tuân theo những nguyên tắc chỉ dạy trong hệ thống này.

Nho giáo, cùng những mẫu văn bản viết đầu tiên của người Trung Quốc, được truyền bá vào khoảng thời gian đầu Công nguyên. Cả ba Vương quốc, Goguryeo, Baekje và Silla đều lưu lại ghi chép cho thấy ảnh hưởng từ sớm của Nho giáo. Ở Goguryeo, trường đại học công Daehak được thành lập năm 372 và một số trường dạy Nho giáo cũng mọc lên ở khắp nơi trong Vương quốc. Vương quốc Baekje cũng có những cơ sở như vậy, thậm chí từ sớm hơn.

Vương quốc Silla Thống nhất cử các đoàn học giả tới Trung Quốc thời nhà Đường để tận mắt quan sát hoạt động của các cơ sở theo đạo Khổng, và mang về những tập ghi chép dày về các vấn đề này. Đối với Triều đại Goryeo ở thế kỷ thứ 10, đạo Phật là quốc giáo, còn Nho giáo đóng vai trò làm cơ sở triết lý và kết cấu cho nhà nước. Kỳ thi tuyển quan lại Gwageo, vốn được du nhập từ hệ thống tuyển quan lại của Trung Quốc vào cuối thế kỷ thứ 10, đã tích cực khuyến khích việc nghiên cứu học tập kinh điển Nho giáo, và do đó khắc sâu những giá trị trong Nho giáo vào tư tưởng của người Hàn Quốc.

Triều đại Joseon, bắt đầu từ năm 1392, chấp nhận Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống của mình và phát triển hệ thống giáo dục, nghi lễ và cách thức cai trị theo Nho giáo. Khi những thế lực phương Tây và Nhật Bản bắt đầu tiến hành xâm chiếm Hàn Quốc vào cuối thế kỷ thứ 19 để buộc Hàn Quốc phải mở cửa, những người theo Nho giáo tự tập hợp thành “nghĩa quân” chiến đấu chống lại quân xâm lược.

Nhiều nỗ lực cải cách Nho giáo đã diễn ra để làm sao cho nó cho phù hợp với điều kiện thay đổi của mỗi thời kỳ. Những nhà cải cách tiếp thu nền văn minh mới từ phương Tây và cố gắng thiết lập một chính quyền kiểu mới, độc lập. Đồng thời, dưới ách cai trị của Nhật Bản, các nhà cải cách này cũng tham gia nhiều phong trào đấu tranh đòi độc lập, chống lại chính quyền Nhật. Ngày nay, tập tục thờ cúng tổ tiên của đạo Khổng vẫn rất phổ biến và lòng hiếu thảo vẫn luôn là một đức tính được đề cao trong xã hội Hàn Quốc.

Đạo Thiên chúa

Làn sóng truyền giáo của đạo Thiên Chúa lan tới Hàn Quốc vào thế kỷ thứ 17 khi những bản ghi chép viết bằng tiếng Hán các công trình truyền bá Thiên chúa giáo của Matteo Ricci được mang về từ Bắc Kinh sau các chuyến đi sứ triều cống hàng năm tới gặp Hoàng đế Trung Quốc. Bên cạnh các giáo lý, những cuốn sách này còn nói đến những khía cạnh trong việc học tập ở phương Tây, ví dụ như lịch dương, và các vấn đề khác thu hút nhiều sự chú ý của các nhà Nho triều đại Joseon theo trường phái Thực học.

Tới thế kỷ thứ 18, đã có vài người trong số những nhà Nho trên và gia đình của họ cải giáo sang đạo Thiên chúa. Lúc đầu không hề có một linh mục nào đến Hàn Quốc; người đầu tiên là linh mục Zhou Wenmo đến thăm Hàn Quốc năm 1794. Số lượng người cải giáo cứ tiếp tục tăng, mặc dù việc truyền bá các tôn giáo lạ ở Hàn Quốc về cơ bản bị coi là trái phép, và thỉnh thoảng vẫn có những vụ hành quyết. Tới năm 1865, hai năm sau khi hoàng thái tử Daewongun, người luôn bài ngoại, lên ngôi hoàng đế, chỉ có hơn chục linh mục mà đã thu nạp tới khoảng 23.000 tín đồ.

Nhà thờ lớn Myeongdong, ở trung tâm Seoul

Nhà thờ lớn Myeongdong, ở trung tâm Seoul

Năm 1925, 79 người Hàn Quốc tử vì đạo trong các vụ hành quyết dưới Triều đại Joseon được phong chân phước tại Nhà thờ Thánh Peter ở Rome, và năm 1968, thêm 24 người nữa được phong chân phước.

Trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), số lượng các tổ chức cứu tế của Thiên Chúa Giáo và các nhà truyền giáo không ngừng tăng lên. Giáo hội Công giáo Hàn Quốc ngày càng phát triển và hệ thống phẩm trật được thiết lập chính thức vào năm 1962. Giáo hội Công giáo Roma tại Hàn Quốc tổ chức kỷ niệm 200 năm lịch sử bằng chuyến viếng thăm tới Seoul năm 1984 của Giáo hoàng John Paul II và lễ phong thánh 93 nhà truyền giáo người Hàn Quốc và 10 nhà truyền giáo người Pháp tử vì đạo.

Đây là lần đầu tiên, một lễ phong thánh được tổ chức ngoài thành Vatican. Đây cũng là lý do khiến Hàn Quốc là quốc gia có số lượng Thánh Công giáo lớn thứ tư trên thế giới, mặc dù mức tăng số lượng tín đồ còn chậm.

Đạo Tin Lành

Vào năm 1884, Horace N. Allen, một bác sĩ người Mỹ và cũng là một nhà truyền giáo của giáo hội Tin Lành Trưởng lão, tới Hàn Quốc. Năm sau đó, cũng tới từ nước Mỹ, là Horace G. Underwood, thuộc cùng giáo phái trên, và Henry G. Appenzeller, một nhà truyền giáo của giáo hội Giám lý. Theo sau đó là nhiều vị đại diện cho các giáo phái khác theo đạo Tin Lành. Những nhà truyền giáo này cống hiến cho xã hội Hàn Quốc bằng cách mở các dịch vụ y tế, giáo dục và qua đó phổ biến giáo lý của mình. Một số tín đồ đạo Tin Lành như Tiến sĩ Seo Jae-ipl, Yi Sang-jae và Yun Chi-ho, đều là những lãnh đạo phong trào giành độc lập, và đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp chính trị.

Các trường tư thục theo đạo Tin Lành như trường Yonhi và Ewha, góp phần phát huy tư tưởng dân tộc trong cộng đồng. Năm 1903, Giáo hội Thiên chúa giáo Thanh niên Seoul (YMCA) được thành lập cùng với nhiều tổ chức Thiên chúa giáo khác. Các tổ chức này tích cực thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội, khuyến khích sự ra đời của các nhóm tương tự trong giới trẻ Hàn Quốc. Những nhóm này không chỉ theo đuổi các mục đích chính trị, giáo dục mà còn thức tỉnh ý thức người dân chống mê tín dị đoan và các tập tục xấu, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới, xóa bỏ hệ thống thê thiếp, và đơn giản hóa các nghi lễ, nghi thức.

Các tôn giáo bản địa

Sự suy sụp của Vương triều Joseon và sự chiếm đóng của Nhật Bản thúc đẩy hình thành nên nhiều tín ngưỡng mới.

Đạo Phật-Won được thành lập để dẫn dắt chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ đến được cõi phúc lạc vô lượng. Đây là một tín ngưỡng dựa chủ yếu vào việc tu tập đạo đức, lòng dũng cảm và đi tìm chân lý. Cái tên Phật-Won, tiếng Hàn là Wonbulgyo, là tên ghép từ những chữ thể hiện chân lý, giác ngộ, và chỉ dạy: “Won” tức là vòng tròn đồng nhất, tượng trưng cho chân lý tối thượng. “Bul” nghĩa là giác ngộ, và “gyo” nghĩa là truyền dạy chân lý. Vì thế, đạo Phật-Won là một tôn giáo chú trọng sự giác ngộ bằng chân lý, và áp dụng tri kiến ấy vào cuộc sống hàng ngày.

Vào những năm 1860, phong trào Cheondogyo – một phong trào kỹ nghệ và xã hội – được khởi xướng nhằm chống lại sự cạnh tranh, xâm lấn lan tràn vào từ bên ngoài. Vào thời đó, nó được gọi là Donghak (tức Đông Học), để đối lập với “Tây Học.” Nguyên tắc của Cheondogyo là Innaecheon, nghĩa là con người được đồng nhất hóa với “Haneullim”, tức Thượng đế trong tín ngưỡng này, nhưng con người không phải là Thượng đế. Mỗi người đều có Thượng đế ngự trong mình và đó chính là nguồn gốc của nhân phẩm con người, và việc tu luyện tâm linh sẽ giúp con người và đấng linh thiêng hòa làm một.

Ngoài ra, còn có Daejonggyo, là một tôn giáo dân tộc thờ thần Dangun. Tôn giáo này đóng vai trò rất quan trọng trong phong trào đấu tranh giành độc lập của Hàn Quốc những năm 1910 và 1920.

Đạo Hồi

Mặc dù giữa Triều đại Goryeo và thế giới Hồi Giáo đã có những trao đổi ngoại giao và thương mại, nhưng những mối liên hệ này trở nên nhạt nhòa trong suốt Triều đại Joseon. Những người Hàn Quốc đầu tiên tiếp xúc với Hồi giáo trong thời gian sau này chủ yếu là người lao động được cử tới Đông Bắc Trung Quốc vào đầu thế kỷ 20, dưới chính sách thực dân của đế quốc Nhật. Một số người cải theo đạo Hồi quay trở về sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Họ sống với tín ngưỡng của mình cho tới Chiến tranh Triều Tiên, khi nhiều lính Thổ Nhĩ Kỳ thuộc lực lượng của Liên Hợp Quốc tới Hàn Quốc. Họ mời những tín đồ đạo Hồi của Hàn Quốc cùng tham gia cầu nguyện.

Lễ nhập đạo cho các tín đồ Hàn Quốc theo đạo Hồi được tổ chức vào tháng 9 năm 1955, theo sau là lễ suy cử một vị Imam người Hàn Quốc đầu tiên. Hội Hồi giáo Hàn Quốc được mở rộng và tổ chức lại thành Liên đoàn Hồi giáo Hàn Quốc vào năm 1967, và một thánh đường Hồi giáo trung tâm được đặt ở Seoul năm 1976.

Trên đây là những tôn giáo ở Hàn Quốc.


  • 0
Hệ thống sưởi Ondol

Nhà cửa người Hàn Quốc

Người ta nói chung cho rằng, con người thời Đồ đá cũ đã bắt đầu sinh  sống trên bán đảo Triều Tiên từ cách đây 40.000 đến 50.000 năm, mặc dù vẫn chưa có gì xác thực họ chính là tổ tiên của người Triều Tiên ngày nay. Ở thời kì này có người sống trong hang động, có người thì dựng các cấu kiện trên mặt đất. Họ ăn hoa quả và các loại rễ củ ăn được, và sinh sống bằng săn bắt và đánh cá.

Con người thuộc thời kì Đồ đá mới bắt đầu xuất hiện ở Triều Tiên vào khoảng năm thứ 4000 TCN, vì người ta đã tìm ra dấu vết cho thấy sự có mặt của họ vào khoảng năm 3000 TCN trên khắp bán đảo này. Các nhà khoa học tin rằng, chính người thờikì Đồ đá mới đã tạo thành giống nòi người Triều Tiên ngày nay. Những người cổ xưa này lúc đầu sống gần bờ biển, bờ sông, rồi mới tiến dần vào sâu trong đất liền. Biển thời đó là nơi cung cấp nguồn thức ăn chính cho họ. Họ sử dụng lưới, móc câu và dây câu để bắt cá và các hải sinh khác. Một cách khác để có được thức ăn là săn bắt. Người ta đã tìm thấy những đầu mũi tên và mũi giáo ở các di tích của con người thời kì Đồ đá mới. Sau này, họ bắt đầu tiến hành làm nông nghiệp, sử dụng cuốc, rìu và cối xay bằng đá.

Hoạt động trồng lúa bắt đầu trong thời kì Đồ đồng, và được cho là đã kéo dài ở Triều Tiên cho tới năm 400 TCN. Con người thời này sống trong những hố có phủ mái rạ, còn mộ đá và quan tài đá được dùng chủ yếu để phục vụ việc chôn cất.

Khi nông nghiệp trở thành hoạt động chủ đạo, các ngôi làng bắt đầu hình thành, và nổi lên một vị lãnh đạo với quyền lực tối cao. Nhu cầu đặt ra phải có luật lệ để cai quản cộng đồng. Vào thời Gojoseon  (năm 2333- năm 108 TCN), một bộ luật gồm tám điều ra đời, nhưng chỉ có ba điều trong số đó vẫn còn được biết tới ngày nay: Thứ nhất, bất kì ai phạm tội mưu sát người khác sẽ bị tử hình ngay lập tức. Thứ hai, ai phạm tội sát thương người khác sẽ phải bồi thường bằng thóc gạo. Thứ ba, ai phạm tội trộm cắp tài sản của người khác sẽ trở thành nô lệ cho nạn nhân của mình.

Nhà cửa

Hanok, kiểu nhà truyền thống của người Hàn Quốc, gần như không thay đổi từ thời Tam Quốc cho tới cuối Triều đại Joseon (1392-1910).

Hệ thống sưởi Ondol

Ngày nay, từ Ondol được dùng để chỉ tất cả những hệ thống sưởi ấm dưới sàn được thiết kế dựa theo cách ăn uống và ngủ nghỉ truyền thống trên mặt sàn.

Ondol, hệ thống lò sưởi dưới sàn nhà độc đáo của Hàn Quốc, đầu tiên được sử dụng ở miền bắc. Khói và sức nóng từ các bếp lò nằm thấp phía dưới được dẫn qua các ống xây dưới nền nhà. Thời tiết vùng phương nam ấm áp hơn, nên ondol thường được dùng với sàn nhà bằng gỗ. Vật liệu chính để làm kiểu nhà truyền thống này là đất sét và gỗ. Giwa, mái ngói có rãnh lượn sóng màu đen, được làm từ đất, thường là đất sét đỏ. Ngày nay, dinh thự của Tổng thống Hàn Quốc được gọi là Cheong Wa Dae, hay Nhà Xanh, chính là vì nó có mái ngói màu xanh.

Khi xây Hanok, người ta không hề dùng đinh mà chỉ lắp ráp các mộng vào với nhau. Nhà của tầng lớp thượng lưu gồm một vài công trình tách rời, một công trình làm chỗ ở cho phụ nữ và trẻ em, một công trình dành riêng cho đàn ông trong gia đình và khách khứa, và một công trình khác cho người hầu – tất cả đều được bao quanh bằng tường. Gian thờ tổ tiên gia đình được xây ở sau nhà. Đôi khi cũng có một hồ sen ở phía trước nhà, bên ngoài bức tường.

Hình dáng các ngôi nhà có sự khác biệt khi đi từ phương bắc lạnh giá về phương nam ấm áp hơn. Ở phương nam, hình dáng nhà thường đơn giản, có một tầng hình chữ nhật, với nhà bếp hoặc một căn phòng nằm ở bên cạnh, tạo thành hình chữ L. Về sau, nhà Hanok có hình chữ U hoặc hình vuông, quây quanh một khoảng sân nằm ở chính giữa.

Từ cuối thập niên 1960, kiểu nhà cửa ở Hàn Quốc bắt đầu thay đổi nhanh chóng khi các tòa nhà căn hộ kiểu phương Tây bắt đầu được xây dựng. Những khu căn hộ cao tầng mọc lên như nấm trên khắp đất nước từ thập niên 1970, nhưng hệ thống sưởi ondol vẫn được ưa chuộng, với ống dẫn nước nóng thay thế cho ống dẫn hơi dưới sàn nhà.

Ngôi nhà kiểu Hàn Quốc

Ngôi nhà kiểu Hàn Quốc

Chú thích nhà cửa người Hàn Quốc (Từ trên xuống, từ trái qua):
1-2. Bukchon (Làng Bắc) ở Quận Gahoe-dong của Seoul
3-4. Ngôi nhà kiểu Hàn Quốc truyền thống (hanok) của Im Jin-su ở Anseong, tỉnh Gyeonggi-do.


  • 0
Phụ nữ mặc trang phục truyền thống Hanbok

Trang phục người Hàn Quốc

Người Hàn Quốc từng dệt vải từ sợi gai và dong, và nuôi tằm để dệt lụa. Trong suốt thời Tam Quốc, đàn ông thường mặc áo jeogori, quần baji, và áo choàng durumagi, cùng với mũ, thắt lưng và giày. Phụ nữ thời đó thì mặc áo chẽn jeogori, có hai dải ruy-băng dài buộc thành nút otgoreum, và váy chima dài trùm kín chân, thắt eo cao, áo durumagi, tất bông trắng beoseon, và giày mũi hài. Bộ trang phục này, gọi là Hanbok, được truyền lại nguyên vẹn cho cả nam lẫn nữ qua hàng trăm năm, gần như không có thay đổi gì ngoại trừ chiều dài của áo jeogori và váy chima.

Quần áo kiểu phương Tây bắt đầu được bày bán ở Hàn Quốc trong thời kì chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), và đến thời kì công nghiệp hóa nhanh chóng trong thập niên 1960 và 1970, người ta ngày càng ít mặc Hanbok vì cho là không phù hợp để làm quần áo mặc thông thường. Tuy nhiên, gần đây, những người ái mộ Hanbok đã và đang tổ chức các chiến dịch nhằm làm sống lại bộ Hanbok, và cải tiến kiểu dáng cho phù hợp với môi trường làm việc hiện đại.

Một số người Hàn Quốc vẫn hay mặc Hanbok truyền thống, nhưng thường chỉ vào dịp lễ tết đặc biệt như lễ Seollal và Chuseok hay trong các ngày lễ gia đình như lễ Hwangap, tức lễ mừng thọ bố mẹ tròn 60 tuổi.

Dưới đây là trang phục người Hàn Quốc truyền thống.

Trẻ em Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok

Trẻ em Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok

Thiếu nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok

Thiếu nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok

Phụ nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok

Phụ nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok


  • 0
Jeonju Bibimbap

Ẩm thực Hàn Quốc

Trong ba thành tố chính của đời sống – ở, mặc, ăn – sự thay đổi trong thói quen ẩm thực có ảnh hưởng lớn nhất tới người dân Hàn Quốc. Cơm vẫn là món ăn chủ đạo của đa số người Hàn Quốc, nhưng trong giới trẻ hiện nay, nhiều người tỏ ra thích đồ ăn kiểu Tây hơn. Cơm thường đi kèm với rất nhiều món khác, chủ yếu là các loại rau đã được nêm gia vị, canh, các món ninh, hầm và thịt.

Một bữa ăn truyền thống của người Hàn sẽ không thể thiếu món kimchi, món ăn gồm nhiều loại rau được ngâm, dầm như cải thảo, củ cải, hành lá, và dưa chuột. Một số loại kimchi có vị rất cay do được trộn bột ớt, trong khi có những loại kimchi khác không trộn bột ớt, mà được ngâm vào một dung dịch tạo vị. Tuy nhiên, tỏi là gia vị luôn được dùng để làm tăng mùi vị cho kimchi.

Bữa ăn truyền thống Hàn Quốc nhiều món

Bữa ăn truyền thống Hàn Quốc nhiều món

Vào cuối tháng 11 hay đầu tháng 12, các gia đình Hàn Quốc ngày xưa thường hay chuẩn bị đủ kimchi cho suốt cả mùa đông dài. Món kimchi được chứa trong các thạp lớn bằng đất sét và được hạ thổ một phần để giữ nhiệt và mùi vị. Ngày nay ở Hàn Quốc, các bà nội trợ không có thời gian để làm kimchi, hoặc không có không gian để dự trữ số lượng lớn. Nhưng kimchi vẫn là một phần cực kì quan trọng trong lối sống của người Hàn Quốc. Các công ty chuyên làm các món ngâm, dầm cũng như những công ty bán các loại tủ lạnh chuyện dụng cho món kimchi ngày nay thường có doanh thu khổng lồ.

Ngoài kimchi, món doenjang (bột đậu nành lên men), với những thuộc tính chống ung thu, thu hút sự chú ý của nhiều chuyên gia dinh dưỡng hiện nay. Người Hàn Quốc thời xưa thường làm doenjang ở nhà bằng cách luộc đỗ vàng, phơi khô ở chỗ có bóng râm, rồi ngâm vào nước muối và để lên men ở chỗ có ánh nắng mặt trời. Tuy nhiên, giờ đây chỉ có một số ít các gia đình vẫn tiến hành toàn bộ các công đoạn trên; phần lớn là mua doenjang sản xuất trong nhà máy.

Cách làm kim chi

Cách làm kimchi

Trong các món thịt, món được cả người Hàn Quốc và người nước ngoài ưa thích nhất là món thịt ướp bulgogi (thường là thịt bò), hay món galbi (sườn bò hoặc sườn lợn nướng).

Cơm trắng - Mỳ nước đậu

Cơm trắng – Mỳ nước đậu

Ssalbap (Cơm trắng)

Cơm trắng là một loại cơm được người Hàn Quốc dùng nhiều nhất. Gạo trắng được nấu lên có vị rất tuyệt nhưng khi ăn với các món ăn kèm thì cơm trắng sẽ  làm dậy mùi vị của các món ăn kèm.

Cháo yến mạch (Juk)

Juk là món ăn lâu đời của Hàn Quốc. Yến mạch được nấu với nước trong một thời gian dài. Có nhiều loại cháo yến mạch phụ thuộc vào nguyên liệu. Cháo yến mạch nhuyễn và nhẹ nhàng với dạ dày và giàu chất dinh dưỡng bởi vậy rất phù hợp cho các bệnh nhân. Với những người bận rộn của ngày hôm nay, juk là một món ăn thay thế bữa sáng rất tuyệt.

Mỳ

Mỳ Ý, mỳ soba Nhật Bản và bún của Việt Nam: những nước trên khắp thế giới có riêng các món mỳ đặc trưng của mình. Hàn Quốc cũng có rất nhiều món mỳ ngon, đáng nói đến là kalguksu và naengmyeon.

Canh, món hầm và thịt hầm

Canh của Hàn Quốc gọi là tang được nấu bằng các nguyên liệu khác nhau trong một chiếc nồi. Jjigae và Jeongol gần giống với canh nhưng jjigae nấu ít nước hơn và jeongol là thịt hầm lẫn với rau ở trên bàn.

Canh thịt hầm

Món ăn kèm (Banchan)

Có rất nhiều món ăn kèm trong các bữa ăn của người Hàn Quốc. Cơm và canh được để trong những bát riêng nhưng những món ăn kèm được để trong các đĩa nhỏ đặt tại trung tâm của bàn ăn để mọi người cùng thưởng thức. Bởi vì mỗi vùng của Hàn Quốc có các loại rau và nguyên liệu khác nhau nên có hàng trăm món ăn kèm khác nhau.

Rượu cổ truyền

Rượu cổ truyền Hàn Quốc được làm bằng cách lên men các hạt khác nhau. Quá trình lên men là phần thiết yếu của toàn bộ quá trình sản xuất rượu, quyết định hương thơm và mùi vị của sản phẩm cuối cùng. Tuỳ vào thời tiết và vùng sản xuất, rượu cổ truyền có sự khác nhau lớn. Hoa quả và thảo mộc có thể được thêm vào để tăng thêm mùi vị. Có Makgeolli (Rượu Gạo Cổ truyền), Soju (Rượu được chưng cất nổi tiếng nhất của Hàn Quốc) và Gwasilju (Rượu Hoa quả)

Món ăn vùng

Hàn Quốc bao quanh bởi 3 mặt biển và 70% của hòn đảo này là núi. Các vùng ở Hàn Quốc giáp giới với các dãy núi dốc và các dòng sông. Điều kiện khí hậu khác nhau ở các vùng và do đó có rất nhiều sản phẩm tự nhiên. Sự khác biệt về tự nhiên và khí hậu giữa các vùng của Hàn Quốc giải thích cho sự phát triển của văn hoá ẩm thực đặc trưng vùng của Hàn Quốc.

Bánh gạo (Tteok)

Nhìn chung, gạo được sử dụng như một nguyên liệu chính nhưng đôi khi gạo cũng được dùng làm thành bánh gạo. Trong một số dịp lễ, ngày nghỉ quốc lễ, và sinh nhật, bánh gạo luôn luôn được giới thiệu trên bàn tiệc. Đầu tiên được làm từ bột gạo trắng, các nguyên liệu khác như cây ngải mugwort, đậu đỏ, táo mật, đậu, và hạt dẻ được thêm vào nhằm tạo vị độc đáo cho bánh gạo.

Bánh gạo

Tráng miệng

Một khay trà và bánh quy hoặc Hangwa được gọi là dagwasang và thường được dùng vào cuối bữa ăn. Nó cũng có thể được mang ra để tiếp khách hoặc dùng như là đồ ăn vặt. Trà và bánh quy khác nhau theo mùa. Vào mùa thu, mùa đông và mùa xuân, trà nóng sẽ được uống kèm với các loại bánh quy được làm từ các loại quả theo mùa. Vào mùa hè, bánh quy thường ăn kèm với nước hoa quả lạnh và hoa quả tươi.

Trên đây là những nét đặc trưng trong ẩm thực Hàn Quốc.


  • 0
Hanrasan

Khám phá Hàn Quốc – Phần 2

>> Khám phá Hàn Quốc – Phần 1

Miền trung

Tỉnh Chungcheongbuk-do và Chungcheongnam-do nằm ở trung tâm phía tây của bán đảo Triều Tiên. Chungcheongbuk-do là tỉnh duy nhất nằm trong đất liền, nhưng với việc hoàn thành Khu liên hợp Chính phủ ở thủ phủ Daejeon và sân bay quốc tế mới mở ở thủ phủ Cheongju của Chungcheongbuk-do, thì hai tỉnh này đang trở thành khu trung tâm chiến lược đối với nền kinh tế quốc gia.

Sông Namhangang tại Cheongju, Chungcheongbuk-do

Sông Namhangang tại Cheongju, Chungcheongbuk-do

Daejeon cách Seoul khoảng hai giờ chạy xe về phía nam và là ga đầu mối chính của tuyến đường sắt Seoul-Busan và tuyến Seoul- Gwangju-Mokpo. Daejeon nhanh chóng phát triển thành một trong những trung tâm khoa học và công nghệ lớn của Hàn Quốc. Expo Park – nơi diễn ra International Daejeon Expo’83 – đã được đổi mới và chuyển thành công viên khoa học công cộng.

Buyeo, thủ đô cuối cùng của vương quốc Baekje (18 TCN – 660 SCN), là nét nổi bật của Bảo tàng quốc gia Buyeo nơi lưu giữ bộ sưu tập đầy đủ gồm khoảng 7.000 di vật từ thời Baekje.

Sông Geumgang chảy dọc núi Gyeryongsan – một trong những ngọn núi nổi tiếng nhất trong vùng. Nguyên là trung tâm của nền văn hóa Baekje, khu vực này có nhiều đồ tạo tác văn hóa độc đáo và di vật lịch sử.

Rải rác giữa nhiều đỉnh núi và quả đồi (có hình) sống trâu nằm dọc dãy Sobaeksan là rất nhiều kho báu quốc gia và cung điện lịch sử – đó là chùa đá bảy tầng Yongdusa, chùa gỗ Palsangjeon, pháo đài Sangdangsanseong và miếu thờ Chungnyeolsa của đô đốc Yi Sun-sin.

Nhiều điện thờ, suối nước nóng, công viên quốc gia và kỳ quan thiên nhiên khác cũng đang chờ được khám phá ở đây. Hồ Chungjuho tạo ra nhiều môn thể thao dưới nước thú vị ở miền trung Hàn Quốc. Du thuyền chạy tuyến Chungju và Danyang, đem lại cho du khách cơ hội ngắm cảnh quan tuyệt vời của các ngọn núi bao quanh. Hang Gosudonggul quyến rũ du khách bởi những thạch nhũ lấp lánh đủ mọi hình dạng và kích thước. Vườn quả Chungju là một trong những nguồn chính cung cấp táo ngon của đất nước. Thuốc lá vàng cũng là đặc sản của vùng này, còn sâm thì có tiếng toàn thế giới.

Vùng tây nam

Vùng tây nam Hàn Quốc bao gồm hai tỉnh Jeollabuk-do và Jeollanam-do. Vùng này tương đối bằng phẳng, có những cánh đồng lúa trải dài, rộng lớn, và hình dáng bờ biển lởm chởm tạo nên nhiều cảng nhỏ. Đó là một vùng đất màu mỡ và ấm áp, được che chắn bởi các ngọn núi cao ở phía đông và phía bắc, cùng vùng biển lặng và nhiều đảo ở phía tây và phía nam. Do chịu ảnh hưởng của cả khí hậu lục địa lẫn khí hậu đại dương, nên hai tỉnh này có rất nhiều điều kiện thời tiết khác nhau.

Jeonju Bibimbap

Bibimbap là món cơm nóng ăn với thịt bò xay, giá đỗ, rau bina, cải cúc, dương xỉ diều hâu, rễ cây hoa chuông Trung Quốc, cải xoong và nấm đông cô. Tất cả trộn với gochujang (hạt tiêu cay và bột đậu nành nhão). Món ăn nổi tiếng này đại diện cho nền ẩm thực Jeolla-do với mùi vị và màu sắc đáng chú ý.

 

Jeonju nổi tiếng với món cơm trộn rau truyền thống bibimbap và hanji – giấy dâu truyền thống. Loài chim biểu tượng của tỉnh là chim ô thước – loài chim liên quan đến một truyền thuyết đau buồn. Theo truyền thuyết này, vào đêm ngày 7 tháng 7 âm lịch, chim ô thước bắc cầu qua dải Ngân hà bằng cách dùng mỏ cắp sỏi và nhánh cây, để đôi tình nhân Ngưu Lang (Gyeonu) và Chức Nữ (Jingnyeo) – mà số phận đã định là chỉ gặp nhau một năm một lần – được gặp lại nhau.

Namwon là cửa ngõ để vào Công viên Quốc gia Jirisan và cũng là quê hương nổi tiếng của Chunhyang – một trong những vị anh hùng huyền thoại của Hàn Quốc. Chunhyangga – bài hát sử thi (pansori) kể về tình yêu thủy chung của Chunhyangga – là một trong những tiết mục được ưa thích nhất ở Hàn Quốc. Dãy Jirisan có đỉnh núi cao thứ hai ở Hàn Quốc. Dãy núi phụ to lớn và chạy xuyên ba tỉnh Jeollanam-do, Jeollabuk-do và Gyeongsangnam-do.

Cánh đồng trà xanh

Những cánh đồng trà xanh ở Boseong nằm trong số những cánh đồng trà nổi tiếng nhất ở Hàn Quốc. Cây trà xanh bao phủ khắp phong cảnh, giống như một tấm thảm mềm màu xanh.

Công viên Quốc gia Deogyusan bao quát những phong cảnh hùng vĩ của thung  lũng Mujugucheondong chạy dài 30km. Thung lũng có khu trượt tuyết Muju lớn nhất ở Hàn Quốc.

Bảo tàng Quốc gia Gwangju là nơi lưu giữ bộ sưu tập gốm sứ Trung Quốc được tìm thấy trên một tàu buôn Trung Quốc 700 năm tuổi bị đắm ở ngoài biển Sinan.

Damyang, cách Gwangju 22km về phía bắc, là trung tâm trồng tre nứa và sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ từ tre nứa. Bảo tàng Tre nứa Damyang là bảo tàng đầu tiên trên thế giới dành riêng cho đồ tre nứa.

Các điểm du lịch và bảo tàng khác, như Chiến trường Hwangtohyeon, Pháo đài Gochang-eupseong, Khu mộ đá lớn ở Hạt Gochang và Hwasun, Bảo tàng Thư pháp Gangam, làm tăng thêm tính chất lịch sử và văn học cho tỉnh Namwon.

Trên đảo Jindo, cách Seoul khoảng 350km về phía nam, du khách có thể xem được phiên bản Hàn Quốc của “Phép màu Thánh Moses”. Vùng biển giữa làng duyên hải Hoedong-ri trên đảo Jindo và hòn đảo Modo bên cạnh thực sự tách làm đôi trong khoảng một giờ vào hai lần trong năm: lần thứ nhất là đầu tháng 5 và lần thứ hai là giữa tháng 7, tạo ra một lối đi dài 2,8km và rộng 40m. Jindo còn nổi tiếng với giống chó bản xứ Hàn Quốc Jindogae, được chỉ định là di sản quốc gia số 53.

Biển ở Seokguram

Sự phân tách kỳ lạ của vùng biển gần đảo Jindo, Jeollanam-do

 

Vùng đông nam

Vùng đông nam bao gồm tỉnh Gyeong-sangbuk-do và Gyeongsangnam-do và là khu vực có nhiều điểm du lịch hấp dẫn, các di sản văn hóa và di tích lịch sử. Tuyến đường thủy Hallyeosudo cùng hai dãy núi Jirisan và Gayasan nằm trong số các tài nguyên thiên nhiên nổi bật nhất của vùng này. Thêm vào đó, toàn bộ thành phố Gyeongju – cố đô của Vương quốc Silla (57 TCN – 935 SCN) – giờ đây là một bảo tàng ngoài trời hiếm có. Những lăng tẩm hoàng gia, khu đền thờ với những ngôi chùa đá biến dạng và những phế tích pháo đài nằm rải rác khắp thành phố và có nhiều cổ vật quý giá.

Đội quân bảo vệ trong bức phù điêu trang trí tường lối vào động Seokguram

Đội quân bảo vệ trong bức phù điêu trang trí tường lối vào động Seokguram

Những điểm kiến trúc chính của Gyeongju là đền Bulguksa và động Seokguram bên cạnh. Cả hai đều được hoàn thiện ở thế kỷ 8 và tiêu biểu cho nghệ thuật tao nhã của đạo Phật. Năm 1995, hai địa điểm này được đưa vào Danh sách Di sản Thế giới của UNESCO. Các di tích lịch sử quan trọng khác là Công viên Dumuli, Oreung (Năm lăng tẩm), Đài thiên văn Cheomseongdae, Lăng mộ tướng Kim Yu-sin và núi Namsan nơi có nhiều tượng đồ Phật giáo, chùa chiền và phế tích đền nằm rải rác. Bảo tàng Quốc gia Gyeongju lưu giữ các cổ vật quý giá được tìm thấy ở Gyeongju và vùng lân cận.

Khu nghỉ hồ Bomun, nằm ở ngoại ô phía đông cách trung tâm thành phố 6km, là điểm du lịch lồng ghép có một số khách sạn hạng nhất và nhiều phương tiện vui chơi giải trí khác nhau. Đền Haeinsa nổi tiếng với 80.000 tấm mộc bản dùng để in bộ Đại tạng kinh Hàn Quốc; những mộc bản này được khắc vào thế kỷ 13. Đại tạng kinh Hàn Quốc được công nhận là bộ sưu tập kinh sách Phật hoàn chỉnh nhất ở Đông Á.

Cách không xa thành phố Gyeongju lịch sử là các thành phố công nghiệp đang phát triển Pohang và Ulsan. Pohang là quê hương của nhà máy thép POSCO, còn Ulsan là cơ sở công nghiệp của Hyundai – một trong những tập đoàn hàng đầu của Hàn Quốc.

Chùa Seokgatop

Chùa Seokgatap ba tầng có hai nền và được xây dựng theo phong cách Hàn Quốc truyền thống.

Xa hơn về phía nam là Busan, thành phố hải cảng chính và thành phố lớn thứ hai của Hàn Quốc. Chợ cá Jagalchi – một trong những chợ nổi tiếng nhất Hàn Quốc – nằm bên phải bến tàu nơi các thuyền đánh cá dỡ những mẻ cá hàng ngày. Chợ cá đem lại cho du khách quang cảnh hấp dẫn lúc sáng sớm tinh mơ khi người mua kẻ bán mặc cả mẻ cá ngày hôm đó.

Andong là một trong những di tích sống cuối cùng của Hàn Quốc cổ – kho báu di sản của truyền thống đạo Khổng. Hahoe, ngôi làng nhỏ cạnh Andong, nổi tiếng với những chiếc mặt nạ truyền thống độc đáo và kịchmúa mặt nạ Hahoe-talchum. Dosanseowon, Học viện Khổng giáo do Yi Hwang – một trong những học giả nổi tiếng nhất của Hàn Quốc – thành lập vào thế kỷ 16, cũng nằm gần đó. Hành trình du lịch quốc tế quy mô lớn và khu liên hợp nghỉ dưỡng được khai trương năm 2006 ở khu vực phía tây và phía bắc, có các phương tiện vui chơi giải trí cực kỳ hiện đại.

Cầu Gwangan

Cầu Gwangan là cây cầu treo tại Haeundae-gu, Busan. Kết cấu với nhịp cầu dài 7,42 km, đây là cây cầu biển 2 tầng đầu tiên của Hàn Quốc.

Đảo Jejudo và vùng duyên hải phía nam

Sau khoảng một giờ bay từ Seoul, Busan hay Daegu, khách du lịch ở Hàn Quốc có thể tới miền đất có đặc điểm hoàn toàn khác. Được công nhận là khu vực bảo tồn tốt nhất đất nước, Jejudo là tỉnh đảo duy nhất của Hàn Quốc.

Hòn đảo này là điểm đi tuần trăng mật được ưa thích nhất của Hàn Quốc. Được gọi là “Hawaii nhỏ bé” vì phong cảnh núi lửa, cảnh quan cận nhiệt đới đẹp như tranh, các bãi cát biển, thác nước và đường mòn đi bộ, đảo Jejudo là một trong mười điểm du lịch hàng đầu trên thế giới với hơn 7 triệu khách du lịch mỗi năm.

Hanrasan

Hallasan nổi cao giữa Jeju-do

Jejudo có khí hậu cận nhiệt đới, thực vật và phong cảnh ở đây hoàn toàn khác biệt với đất liền. Đảo cũng là nơi cư trú tự nhiên của hơn 2.000 loài. Ngọn núi chính trên đảo là Hallasan cao 1.950m – một ngọn núi lửa đã tắt với miệng rộng. Cách đây nhiều thế kỷ, dòng dung nham của ngọn núi này đã tạo nên các đường hầm, các cột trụ và những hình thù kỳ lạ khác do đất ba-zan nhanh nguội tạo thành. Các điểm du lịch được ưa thích là Làng thủ công Jeju và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, khu nghỉ Jungmun, thác Cheonjiyeon và Vườn lạ Jeju.

Những ngôi nhà cổ lợp mái tranh, tường làm bằng đá dung nham, tạo cho du khách cơ hội lướt qua nền văn hóa dân gian độc đáo của hòn đảo này. Chúng phản ánh cả môi trường thiên nhiên trên đảo lẫn cách sống chân thật của người dân.

Gần đất liền hơn, có hơn 3.000 hòn đảo nhỏ nằm dọc bờ biển uốn khúc ở phía nam và phía tây. Việc hoàn thành đường cao tốc Honam và Namhae vào năm 1973 khiến cho những bờ biển đẹp như tranh này dễ tiếp cận hơn. Khu vực xung quanh Jinhae, Tongyeong, Jinju và Namhae là những điểm nổi bật. Biên giới phía nam bán đảo Triều Tiên là đường bờ biển lởm chởm tạo nên kiểu vịnh và lạch rải rác với các hòn đảo to nhỏ. Người nào thích đường thủy hơn đường bộ thì có thể sử dụng tàu cánh ngầm tuyến Busan-Yeosu. Tàu dừng ở Seongpo, Tongyeong, Samcheonpo và Namhae.


  • 0
Cung điện Gyeongbokgung

Khám phá Hàn Quốc – Phần 1

Seoul

Nằm bên dòng sông Hàn, Seoul đã phát triển thành một thủ đô đông đúc với dân số hơn 10.000.000 người. Nhiều năm qua, thành phố thủ đô này đã mở rộng rất nhiều trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, tiếp tục phát triển thành một trung tâm lớn mạnh về các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục của đất nước.

Seoul là thành phố lớn thứ mười trên thế giới. Quá khứ và hiện tại của Seoul cùng tồn tại đan xen một cách hấp dẫn: các cung điện hàng trăm tuổi, những cổng thành, đền miếu, vườn hoa và những bộ sưu tập nghệ thuật vô giá chứng thực quá khứ hào hùng của thành phố, còn mặt tiền sáng lấp lánh của những tòa nhà chọc trời cao vút và giao thông nhộn nhịp lại thể hiện một hiện tại sôi nổi của Seoul.

Thành phố cổ kính này có 4 ngọn núi bên trong và 4 ngọn núi bên ngoài bao bọc xung quanh. Núi Bugaksan ở phía bắc, Naksan ở phía đông, Inwangsan ở phía tây và Namsan ở phía nam là “những ngọn núi bên trong” vì cả bốn ngọn núi này nguyên đều nằm trong bức tường thành cổ của thủ đô Joseon. Bốn ngọn núi bên ngoài là Bukhasan ở phía bắc, Yongmasan ở phía đông, Deogyangsan ở phía tây và Gwanaksan ở phía nam. Mỗi ngọn núi có một vẻ đẹp độc đáo riêng khi có được những phong cảnh thiên nhiên đẹp và quang cảnh ngoạn mục nhìn xuống thành phố Seoul. Còn có nhiều con suối trên núi cung cấp thoải mái nước sạch sẽ, trong mát, giúp làm cho những người đi bộ mệt mỏi rã rời tỉnh táo lại.

Cung điện Gyeongbokgung

Cung Gyeongbokgung được coi là đẹp nhất và vẫn là cung điện lớn nhất trong 5 cung điện ở thành phố này.

Ở Seoul, những điểm hấp dẫn phải đi xem là các cung điện hoàng gia cổ của Triều đại Joseon: Gyeongbokgung, Deoksugung, Changdeokgung và Changgyeonggung. Jongmyo – miếu thờ tổ tiên Triều Joseon – và Huwon (Hậu Viên, còn gọi là Vườn Bí Mật) nằm ngay cạnh Changdeokgung, nổi tiếng về các khu vườn có phong cảnh đẹp và các công trình cổ điển.

Một trong những khu vực nổi tiếng nhất đối với khách du lịch là Insa-dong, ở trung tâm Seoul cổ. Là một địa điểm lôi cuốn cả những người mua sắm bình thường lẫn những người sưu tầm nghiêm túc, dọc hai bên Insa-dong có các cửa hàng đồ cổ, phòng triển lãm nghệ thuật, phòng trà truyền thống, nhà hàng và hiệu sách.

Các điểm khác rất hấp dẫn du khách là Bảo tàng Quốc gia, Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Truyền thống Hàn Quốc, Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Sejong, Phòng Nghệ thuật Ho-Am và Nhà Hàn Quốc. Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Quốc gia tại Gwacheon, một thành phố vệ tinh ở phía nam, cũng đáng thăm quan.

Tại Công viên Namsan ở trung tâm Seoul, du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố từ Tháp Seoul và ngắm phong cảnh ngôi làng Hanok được tái tạo ở bên dưới. Du khách có thể thư giãn, đi bộ hoặc thuê xe đạp ở nhiều công viên của Seoul, như Olympic Park, Seoul Grand Park, Seoul Forest và đường ven sông Hangang. Những công viên này nằm trong số các di sản quý báu ẩn khuất của Seoul và người dân thích thú tận hưởng những nơi này, còn du khách lại thường bỏ qua.

Tất nhiên, trong chuyến du lịch đến bán đảo này, cũng cần phải thưởng thức ẩm thực Hàn Quốc ở những nhà hàng hiện đại hoặc truyền thống. Còn có cả thức ăn Trung Quốc và Nhật Bản tuyệt ngon, cũng như đồ ăn Pháp, Ý, Thái Lan, Pakistan và nhiều nền ẩm thực khác.

Seoul có cuộc sống ban đêm sôi động với các câu lạc bộ, quán cà phê và chỗ ngồi trên mái nhà. Ta có thể ngắm cảnh thành phố tuyệt đẹp vào ban đêm từ trên xe buýt du lịch thành phố Seoul hay dọc theo con sông Hàn khi thuyền du lịch đi chầm chậm qua thung lũng hai bên là nhà cao tầng.

Vùng phụ cận Seoul và tỉnh Gyeonggi-do

Tỉnh Gyeonggi-do nằm ở trung tâm phía tây của bán đảo Triều Tiên, với dòng sông Hàn chảy qua trung tâm. Dòng sông chia tỉnh thành vùng núi phía bắc và những cánh đồng phía nam. Trong khi Seoul khiến cho du khách bận rộn với quá nhiều thứ hấp dẫn, lôi cuốn muốn xem và chơi, thì khu vực ngoài Seoul này lại có thể mang lại cho du khách thời gian nghỉ ngơi thú vị và lấy lại sức lực.

Cầu Incheon

Cây cầu Incheon dài 18km nối Sân bay Quốc tế Incheon và Thành phố Quốc tế Mới Songdo.

Dải đất miền duyên hải nhô ra, thụt vào dọc các bờ biển và bao gồm vô số vịnh, vũng, mũi đất và đảo. Vịnh Namyangman và Asanman, bán đảo Gimpo và Hwaseong, đảo Ganghwado và Yeongjongdo đều là những điểm hấp dẫn nằm ngoài Seoul đáng đến thăm. Khắp mọi nơi đều thấy nở rộ hoa kim chung (chuông vàng), loài hoa biểu tượng của tỉnh, tượng trưng cho sự thịnh vượng.

Cách Seoul chừng ba mươi phút xe chạy về phía nam là Làng Dân gian Hàn Quốc. Tại ngôi làng truyền thống này, cuộc sống thường nhật của người Hàn Quốc từ xa xưa được tái hiện lại. Làng Dân gian Hàn Quốc được khánh thành vào năm 1973 và giờ đây, nó thể hiện hầu như tất cả các khía cạnh của những gì mang tính chất Hàn Quốc truyền thống.

Những ngôi nhà điển hình cho nhiều tỉnh khác nhau được trưng bày ở đây, và thường xuyên có các buổi biểu diễn đi cà kheo, nghi lễ đám cưới và đám tang, hội thi thả diều và múa dân gian tại khoảnh đất trống trong làng. Du khách cũng có thể xem những người thợ rèn, thợ mộc, thợ gốm và nghệ nhân thủ công làm việc trong xưởng của họ. Ở Suwon, nằm cạnh ngôi làng truyền thống này là Pháo đài Hwaseong – thành phố có tường bao bọc từ triều Joseon và mới đây đã được đưa vào danh sách Di sản Thế giới của UNESCO.

Yongin Everland – khu liên hợp vui chơi giải trí – có các phương tiện giải trí hiện đại, bao gồm công viên nước và suối nước khoáng rất lý tưởng cho vui chơi giải trí trong mùa hè cho mọi lứa tuổi. Bảo tàng Nghệ thuật Ho-Am độc đáo trưng bày hơn 5.000 tác phẩm nghệ thuật. Khoảng 80 lò nung tập trung trong khu vực Liên hoan Gốm sứ Icheon tổ chức vào tháng 9 hàng năm. Còn lớn hơn nữa, Liên hoan Gốm sứ thế giới hai năm một lần được tổ chức ở Incheon, Gwangju và Yeoju vào những năm lẻ. Tại đây, bạn có thể thưởng thức màu sắc kỳ diệu của gốm tráng men ngọc bích thời Goryeo và màu trắng thanh khiết của gốm Hàn Quốc.

Làng dân gian Hàn Quốc ở Yongin

Làng Dân gian Hàn Quốc ở Yongin (Tọa lạc trong khu đất rộng khoảng 243 mẫu Anh (xấp xỉ 984.150m2), du khách có thể trải nghiệm hơn 270 ngôi nhà truyền thống của các vùng khác nhau trong bầu không khí thiên nhiên)

Đảo Ganghwado nằm ở cửa sông Hàn, phía bắc cảng Incheon. Hòn đảo này lớn thứ 5 Hàn Quốc, giàu tính lịch sử và có nhiều cảnh đẹp thiên nhiên. Những đền đài kỷ niệm lịch sử lớn ở đây gồm: bàn thờ tương truyền là do Dangun – người sáng lập huyền thoại của Hàn Quốc – dựng lên, cùng các pháo đài, thành cổ, lò gốm từ thời vương quốc Goryeo vào thế kỷ 13 và chùa Jeondeungsa.

Cách Seoul chỉ một tuyến xe buýt dài 56km về phía bắc là Panmunjeom – ngôi làng ngừng bắn nơi Hiệp ước quân sự Triều Tiên đã được kí kết vào ngày 27 tháng 7 năm 1953 nhằm kết thúc cuộc chiến ác liệt của Chiến tranh Triều Tiên. Giờ đây, ngôi làng này là khu vực an ninh chung do lực lượng Liên Hợp Quốc và Bắc Triều Tiên kiểm soát. Du khách được các hướng dẫn viên quân sự đi theo và chỉ dẫn.

Miền đông

Tặng phẩm hay nhất của mùa đông: trượt tuyết ở Hàn Quốc

Tặng phẩm hay nhất của mùa đông: trượt tuyết ở Hàn Quốc
Các khu trượt tuyết có điều kiện tuyết tốt và được trang bị phương tiện tiên tiến dành cho những người say mê trượt tuyết.. (Ảnh: Khu nghỉ dưỡng Yongpyong )


Tỉnh Gangwon-do nằm ở trung tâm phía đông của bán đảo Triều Tiên. Phần lớn đất đai được bao phủ bởi rừng rậm, tạo ra nhiều khung cảnh đẹp với các khu vực ít dân cư hơn các tỉnh khác. Cả những dãy núi xa xôi, cây cối rậm rạp, hẻm núi lẫn các thị trấn nhỏ ven biển đều có nhiều cảnh đẹp rực rỡ.

Với những điều kiện tự nhiên này, Gangwon-do là địa điểm lý tưởng cho Đại hội Thể thao Mùa đông châu Á lần thứ 4 vào tháng 1 năm 1999. Triển lãm Du lịch Quốc tế’99 (ITE) cũng được tổ chức ở đây từ 11 tháng 9 đến hết 30 tháng 10 năm 1999. Hơn 2.000.000 khách du lịch trong và ngoài nước đã tham gia các sự kiện này. Với chủ đề “Con người, thiên nhiên và cuộc sống tương lai”, triển lãm đã tổ chức một loạt các cuộc biểu diễn và sự kiện, bên cạnh nhiều cuộc trình bày thú vị và thông tin hữu ích cho du khách.

Đường bờ biển phía đông trải dài 390km (234 dặm) từ Hwajinpo đến Busan, lởm chởm và có nhiều núi với một số cảnh đẹp ngoạn mục nhất ở Hàn Quốc. Trượt tuyết và các môn thể thao mùa đông khác giúp khu vực này trở thành khu nghỉ ngơi quanh năm. Để đáp ứng nhu cầu của hơn một triệu người trượt tuyết mỗi năm, giờ đây nhiều khu nghỉ được trang bị máy tạo tuyết, giúp kéo dài mùa chơi từ tháng 12 đến tháng 3. Các hoạt động giải trí phổ biến khác trong vùng là bơi vào mùa hè và leo núi vào mùa thu. Các bãi biển ở đây có lẽ đẹp nhất Hàn Quốc, dốc thoai thoải về phía nước sâu và dòng chảy hiền hòa.

Công viên Quốc gia Seoraksan ở Gangwon-do

Công viên Quốc gia Seoraksan ở Gangwon-do

Ngọn núi Seoraksan, một phần của dãy núi Geumgangsan, thu hút du khách với vẻ đẹp hùng vĩ. Ngọn núi này gây ấn tượng mạnh mẽ, màu sắc rực rỡ quanh năm, và là nơi cư trú của loài gấu đen châu Á – biểu tượng của tỉnh Gangwon-do và là một trong những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.

Các điểm được ưa thích khác là suối nước nóng Cheoksan, Osaek và Sorak Waterpia ở trong và xung quanh Công viên Quốc gia Seoraksan, cùng các trạm quan trắc thống nhất tiếp giáp với Khu Phi quân sự (DMZ) tạo ra cảnh quan tuyệt đẹp của lãnh thổ Bắc Triều Tiên. Và vào tháng 8 hàng năm, các đoàn múa rối từ khắp thế giới đổ về thủ phủ tỉnh Gangwon-do để tham dự Liên hoan Múa rối Chuncheon.

Đảo Ulleungdo – nằm cách Pohang 217km (134,8 dặm) về phía đông bắc – là ngọn núi lửa đã tắt nhô lên từ Biển Đông. Đảo Dokdo, mũi cực đông của Hàn Quốc, nằm cách Ulleungdo 87,4km (54,3 dặm) về phía đông nam.

Dokdo

Dongdo và Seodo nằm đối diện nhau với khoảng cách 150 m và độ sau trung bình của mực nước giữa hai hòn đảo này là khoảng 10m

Xem tiếp Khám phá Hàn Quốc – Phần 2


  • 0
Vị trí Hàn Quốc trên bản đồ thế giới

Tổng quan về Hàn Quốc

Vị trí Hàn Quốc trên bản đồ thế giới

Vị trí Hàn Quốc trên bản đồ thế giới

Hàn Quốc hay còn gọi bằng nhiều tên khác như Nam Hàn, Nam Triều Tiên, Đại Hàn là một quốc gia thuộc Đông Á. Hàn Quốc nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên, phía bắc giáp với Bắc Triều Tiên, phía đông Hàn Quốc giáp với biển Nhật Bản, phía tây là Hoàng Hải.

Dưới đây là những nét tổng quan về Hàn Quốc:

Diện tích 98,500 ㎢
Chiều dài biên giới 241 Km
Chiều dài bờ biển 2,413 Km
Biển thềm lục địa 12 hải lý (vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý)
Dân số Xấp xỉ 48 triệu người (năm 2004)
Thủ đô Seoul
Ngôn ngữ Tiếng Hàn (Korean)
Hệ thống chính trị Cộng hòa dân chủ
Tôn giáo Đạo Phật – 23.3%, Thiên Chúa – 19.7%, Công giáo La Mã -6.6%,
Nho giáo – 0.5%, Phật giáo Won – 0.2 %, Đạo Cheon-do-gyo – 0.1%
Chính phủ Hệ tổng thống
Thành viên Liên Hiệp Quốc Kể từ ngày 17/09/1991
Tiền tệ Won
Thu nhập bình quân đầu người $20,045 USD (năm 2007)
Bản đồ các thành phố lớn Hàn Quốc

Bản đồ các thành phố lớn Hàn Quốc


Thông tin liên hệ

Thời gian làm việc:
Thứ 2 – thứ 6
8:00 – 12:00
13:30 – 17:00
Thứ 7
8:00 – 12:00

Địa chỉ:
TP. HCM: 500 Lạc Long Quân, P.5, Quận 11, TP.HCM
(028) 3975 6200 – 0905 605 601

Văn phòng Đà Nẵng: 144 Ông Ích Khiêm, P. Tam Thuận, Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng

(0236)3868978 | 3868979

Văn phòng Hải Dương : 223 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đông Nam Cường, TP. Hải Dương
0220 3550 855 – 0913886800